bài học nhận thức
Mua sách Tâm Lý Học Nhận Thức ở đâu. Bạn có thể mua sách Tâm Lý Học Nhận Thức tại đây với giá . 76.800 đ (Cập nhật ngày 21/09/2022 ) Tìm kiếm liên quan. Tâm Lý Học Nhận Thức PDF. Tâm Lý Học Nhận Thức MOBI. Tâm Lý Học Nhận Thức Tô Thính Phong ebook. Tâm Lý Học Nhận
Nhưng bài thơ không để lại cảm giác bi thương, nặng nề nhờ cách tác giả cảm nhận và khắc họa hình tượng người chiến sĩ đã hi sinh. Anh vẫn ở bên đồng đội trên con đường chiến đấu: “Anh thành ngọn lửa/ Bạn bè mang theo”.
chung của phần “ Bài học nhận thức và hành động”. - Đoạn văn phần "Bài học nhận thức và hành động" phải có sự liên kết về cả nội dung và hình thức với các đoạn văn khác trong bài văn. b2. Bài tập vận dụng
Bài 4: Hoạt động nhận thức. - Hiểu rõ khái niệm và các quy luật của các quá trình nhận thức: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng. - Giải thích bản chất, sự khác biệt giữa tư duy và tưởng tượng; mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính.
3. Bàỉ học nhận thức và hành động cho bản thân: Biết trân trọng tình yêu thương, sự chăm sóc của gia đình và xã hội dành cho mình; hiểu sâu sắc ý nghĩa và mối quan hệ giữa cho và nhận trong cuộc đời. Câu 35: Anh/ chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 chữ)
contoh naskah drama 5 orang tentang menghormati guru. Thừa nhận những vấn đề mình đang gặp phải là bước đầu tiên để hoàn thành tốt khía cạnh của cuộc sống. Tự nhận thức và khả năng xem xét nội tâm hay sự nội quan – introspection có vẻ là lời hứa cho đích đến cuối cùng của những người thầy self-help, nhưng đó chỉ là điểm khởi đầu trong quá trình phát triển bản thân mà thôi. Không thể tự phát triển nếu không biết tự nhận thức bản thân Tự nhận thức bản thân self-awareness, đôi khi cũng được gọi là self-knowledgehoặc nội quan – introspection là việc một cá nhân thấu hiểu được những nhu cầu, ước muốn, tình cảm, thói quen và tất cả những điều khác liên quan tới bản thân mình. Một người càng biết nhiều về chính mình thì sẽ càng dễ thích nghi với những thay đổi của cuộc sống và tìm cách đáp ứng những nhu cầu của mình. Tự nhận thức bản thân là một bộ phận quan trọng của liệu pháp trị liệu và triết học. Nó cũng là cơ sở của việc phát triển cá nhân, giả thiết này có nghĩa là một người nếu thu thập được nhiều thông tin về chính mình thì anh ta có thể phát triển mình dựa trên những thông tin đó. Tờ New York Times đưa ra nguồn gốc của việc này như sau Quan điểm của Socrate là “Hãy tự biết chính mình Know thyself”. Dù điều này khiến nhiều triết gia ngạc nhiên nhưng tự nhận thức về mình đòi hỏi không chỉ khả năng nhận thức, đánh giá trí tuệ mà cả tình cảm của chính mình. Theo kinh nghiệm của tôi tác giả bài viết trên NYT, không phải tất cả các triết gia đều nhận thức được cá nhân trên phương diện cảm xúc. Nhiều người có khuynh hướng coi những trạng thái lên xuống trong cảm xúc của mình như những vật cản của lý trí. Freud, hơn nhiều nhà thông thái ở Athens, đã nắm bắt được tầm quan trọng của việc nhìn thấu cảm xúc của con người emotional self-transparency. Cũng như những bi kịch Hy Lạp nhưng không cần phải có kiến thức về thơ ca, ông nhắc nhớ chúng ta rằng việc tìm được sợi dây liên kết với những cảm xúc phong phú của chính mình là không hề đơn giản. Về cơ bản thì, càng chú ý tới những cảm xúc của mình, bạn sẽ càng hiểu rõ vì sao mình cư xử như vậy trong mọi tình huống. Khi biết rõ hơn về những thói quen của mình thì bạn cũng sẽ dễ dàng cải thiện chúng. Trong hầu hết các trường hợp, điều này cần trải qua vài lần thử nghiệm. Một bài báo khác của tờ NYT nhắc tới vấn đề tự nhận thức bản thân và một phương pháp gọi là phương pháp vòng lặp kép double-loop learning. Trong phương pháp này, chúng ta sẽ đặt câu hỏi cho mọi khía cạnh của cách thức tiếp cận, bao gồm cả phương pháp luận, khuynh hướng thành kiến bias và những giả thiết đã được thiết lập vững chắc. Việc tự xem xét lại chính mình self-examination có chút khác biệt về mặt tâm lý này yêu cầu chúng ta phải trung thực, sẵn sàng nghi ngờ niềm tin của chính mình và can đảm hành động theo những thông tin có được. Điều đó có thể dẫn tới cách nghĩ hoàn toàn mới về cuộc sống và những mục tiêu của cuộc đời. Bạn có thể đọc mọi lời khuyên, áp dụng lịch trình hàng ngày của các thiên tài, nuốt từng lời của những trang viết self-help trên màn hình máy tính nhưng sẽ là vô ích nếu bạn không biết rõ mình để áp dụng chúng. Tự nhận thức bản thân không phải là liều thuốc thần thánh nhưng nó là bước quan trọng đầu tiên Rất dễ nhầm lẫn rằng việc hiểu rõ bản thân sẽ giúp bạn giải quyết tất cả các vấn đề, vì thực ra đó chỉ là bước đầu tiên. Tâm trí ta dễ bị tác động và nuôi dưỡng bởi các quan niệm thành kiến, từ đó khiến ta đưa ra quyết định. Trong cuốn sách Thinking, Fast and Slow, nhà nghiên cứu Daniel Kahneman chỉ ra rằng thậm chí sau nhiều năm nghiên cứu về thành kiến và khả năng ra quyết định của con người, ông vẫn mắc phải những lỗi đã từng mắc trước đó. Thêm vào đó ông cũng nói trong TED Talk rằng cách chúng ta nhớ về các sự kiện không phải luôn luôn chính xác. Ngay cả khi dành nhiều thời gian nhìn lại quá khứ, góc nhìn vẫn có những thay đổi. Một bài báo trên tạp chí Psychological Sience chỉ ra rằng có khá nhiều điểm mù mà ta không thể tự nhận thức được. Về cơ bản thì chúng ta chỉ có thể tạo dựng 1 hình ảnh cá nhân tới điểm mà ta không thể nhìn thấy những điểm yếu của mình. Cải thiện khả năng nhận thức bản thân với các bài tập Nhận thức chính mình không đơn giản và rất khó để loại bỏ mọi thành kiến nhận thức mà bạn có. Nhưng điều đó không có nghĩa là ta không thể cố gắng. Tuy không thể giải quyết mọi vấn đề nhưng ít nhất cũng sẽ tạo ra một số thay đổi khi bạn thực hiện các cách sau. Nhìn nhận bản thân khách quan hơn Học cách xem xét, đánh giá và có thể là chỉ trích những quyết định của chính mình. Tốt hơn nữa là nói chuyện và lắng nghe những phê bình từ người mà bạn tin tưởng. Viết ra mục tiêu manifesto Mục đích chính của tự nhận thức là tự phát triển bản thân. Vì thế việc viết ra 1 danh sách mục tiêu mình muốn đạt được sẽ là cách đẩy bản thân tới nơi bạn muốn. Viết nhật kí Như đã được nhà nghiên cứu Kahneman đề cập, trí nhớ chúng ta nhận thức quá khứ khá sâu. Nếu muốn có cái nhìn chính xác thì viết nhật kí là phương pháp khá hay. Nhật kí giúp bạn nhận thức những gì mình đang làm và từ đâu mà các vấn đề phát sinh. Dành thời gian viết ra ngay cả những chuyện nhỏ nhất như ăn uống, tắm rửa hay ngủ nghỉ sẽ giúp bạn chú ý tới xu hướng chung. Để có cái nhìn sâu hơn về kĩ năng ra quyết định, Harvard Business Review gợi ý cách viết ra những gì bạn nghĩ sẽ xảy ra trong tương lai và chờ khoảng 9, 10 tháng rồi đánh giá lại những gì mình đã viết. Đánh giá bản thân Đánh giá bản thân là việc làm khá gây bực mình ở công sở, nhưng bạn có thể tận dụng nó theo cách có ích. Thay vì dành thời gian nghĩ xem mình cần cải thiện điều gì thì những gì sếp và đồng nghiệp nghĩ về bạn sẽ giúp bạn nhìn mình từ góc độ của người khác, từ đó sẽ có thêm hiểu biết về chính mình. Post Views 281
Tâm lý học nhận thức phân chia các hiện tượng tâm lý thành tư duy, tình cảm, mong muốn là một phân ngành nghiên cứu quá trình nhận ra và hiểu biết ví dụ như tri giác, tư duy, trí thông minh,..Do yêu cầu của lao động, của cuộc sống mà con người thường xuyên tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng xung quanh, qua đó họ nhận thức được các nét cơ bản của sự vật, hiện tượng. Cứ như vậy, nhận thức của con người liên tục được mở rộng. Là một nhánh quan trọng của ngành tâm lý học, tâm lý học nhận thức con người ngày càng được đề cao và nghiên cứu chuyên từ thời xa xưa, vấn đề nhận thức và học tập đã được đề cao cùng lúc với sự xuất hiện của loài người. Ở thời Hy Lạp cổ đại, những suy nghĩ về tâm trí con người và các quá trình của nó đã được hình 387 TCN, Plato gợi ý rằng bộ não là nơi chứa các quá trình tinh thần. Năm 1637, René Descartes khẳng định con người được sinh ra với những ý tưởng bẩm sinh cùng trí tuệ và cơ thể là hai chất riêng biệt. Những lí luận này đã cho thấy tầm quan trọng của nhận thức, từ đó từng bước hình thành nên lý luận nhận thế kỷ 19, các cuộc tranh luận việc suy nghĩ của con người chỉ mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa kinh nghiệm hay bao gồm kiến thức bẩm sinh chủ nghĩa tự nhiên nổ ra. Tiêu biểu trong cuộc tranh luận là lí lẽ của phe chủ nghĩa kinh nghiệm gồm George Berkeley và John Locke đối với lý lẽ của phe chủ nghĩa tự nhiên là Immanuel giữa đến cuối thế kỷ 19 là thời điểm quan trọng dẫn đến sự phát triển của tâm lý học như một môn khoa học. Hai khám phá mà sau này đóng vai trò cốt yếu trong tâm lý học nhận thức là phát hiện của Paul Broca về vùng não chịu trách nhiệm chính trong việc sản xuất ngôn ngữ và khám phá của Carl Wernicke về một lĩnh vực được cho là chủ yếu để hiểu ngôn sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là vào năm 1879, khi Wilhelm Wundt thành lập phòng Thực nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới tại tại Đại học Leipzig, ông đã tiến hành nghiên cứu, đo đạc trí nhớ, tư duy của con người. Vì vậy mà những nghiên cứu của ông trong giai đoạn này được coi là những công trình nghiên cứu đầu tiên về tâm lý học nhận thời gian tiếp theo, những nghiên cứu về tâm lý học tiếp tục nở rộ. Năm 1925, nhà tâm lý học người Đức Wolfgang Köhler đã xuất bản một cuốn sách tên là The Mentality of Apes. Trong đó, ông báo cáo các quan sát cho thấy rằng động vật có thể thể hiện hành vi sâu sắc. Ông bác bỏ chủ nghĩa hành vi để ủng hộ một cách tiếp cận được gọi là tâm lý học Gestalt. Năm 1948, Norbert Wiener xuất bản “Điều khiển học hay Điều khiển và Giao tiếp trong Động vật, Máy móc”, giới thiệu các thuật ngữ như đầu vào và đầu ra. Năm 1948, Tolman nghiên cứu về bản đồ nhận thức – huấn luyện chuột trong mê cung, cho thấy rằng động vật có biểu hiện bên trong của hành vi. Một nhân vật tiên phong của tâm lý học nhận thức thời kì này không thể không kể đến Jean Piaget với những nghiên cứu về suy nghĩ, ngôn ngữ và trí thông minh của trẻ em, người lớn thông qua lý thuyết phát triển nhận thức gồm 4 giai đoạn chính của ra đời của Tâm lý học Nhận thức thường được biết đến nhiều hơn qua cuốn “The Magical Number 7 Plus or Minus 2” của George Miller 1956 .Năm 1960, ông thành lập Trung tâm Nghiên cứu Nhận thức tại Harvard cùng với nhà phát triển nhận thức nổi tiếng, Jerome định danh phân ngành tâm lý học nhận thức thực sự được biết đến nhờ cuốn Cognitive Psychology xuất bản năm 1967 của Ulric Neisser. Ngoài ra, năm 1970, cuốn Tạp chí về tâm lý học nhận thức cũng được ra những năm 60 của thế kỷ 20, khái niệm nhận thức được sử dụng như một khái niệm chung để chỉ hầu hết các quá trình tâm lý học bao gồm động cơ, tri giác, tư duy,...Có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về tâm lý học nhận thức. Theo nghĩa rút gọn của tâm lý học có thể hiểu tâm lý học nhận thức khác với tâm lý học nói chung, nó phân chia các hiện tượng tâm lý thành tư duy, tình cảm, mong muốn là một phân ngành nghiên cứu quá trình nhận ra và hiểu biết ví dụ như tri giác, tư duy, trí thông minh,...Ngoài ra, tâm lý học nhận thức còn được hiểu là quá trình nghiên cứu các lĩnh vực giao thoa của tri giác, học tập và tư duy, nghiên cứu việc con người thu thập, biến đổi, tích lũy và tái hiện tri rộng phạm vi nghiên cứu của tâm lý học nhận thức, có thể hiểu, nó là ngành khoa học nghiên cứu trí thông minh của con người và quan hệ của nó với việc chú ý và thu thập thông tin như thế nào; việc thông tin đó được lưu giữ trong trí nhớ của bộ não ra sao; việc sử dụng các hiểu biết đó như thế nào? để giải quyết các vấn đề về tư duy và diễn đạt ngôn ngữ, chỉ rõ đối tượng nghiên cứu là trí thông minh, quan hệ giữa trí thông minh với việc tư duy và diễn đạt ngôn ngữ, tất cả đã góp phần chỉ ra bản chất của hoạt động nhận đó có thể hiểu, tâm lý học nhận thức bao gồm một loạt những lĩnh vực của các quá trình tâm lý, từ cảm giác đến tri giác, thần kinh học, nhận biết các hình mẫu, chú ý, ý thức, học tập, cảm xúc và các quá trình phát chung lại, tâm lý học nhận thức là môn khoa học nghiên cứu về quá trình nhận thức và các cấu trúc của nhận thức để tìm ra bản chất quá trình nhận thức của con tượng nghiên cứu của tâm lý học nhận thức bao gồm thần kinh học nhận thức, hình tượng, chú ý, tư duy và sự hình thành khái niệm, tri giác, nhận biết các hình mẫu, trí nhớ, sự thể hiện kiến thức, ngôn ngữ, tâm lý học phát triển, trí thông minh của con người, trí thông minh nhân tạo,...Tâm lý học nhận thức cho phép con người tìm hiểu về cách cơ thể và trí não làm việc cùng nhau. Điều này giúp cho việc đưa ra các quyết định một cách đúng đắn và tránh các tình huống căng thẳng, giúp con người quản lý thời gian, thiết lập được các mục tiêu và sống hiệu người thường xuyên sử dụng kiến thức của tâm lý học nhận thức. Đó là khi trò chuyện cùng bạn bè, tranh luận với đối tác hay dạy dỗ con cái. Việc hiểu được cách thức hoạt động của tâm trí giúp bạn trong cuộc sống hàng ngày thông qua việc gắn kết các mối quan hệ một cách chặt chẽ và đưa ra những quyết định tốt ra, tâm lý học nhận thức còn đóng vai trò quan trọng đối với con người trong việc xây dựng các mối quan hệ, cải thiện giao tiếp, xây dựng sự tự tin và phát triển sự nghiệp,..Những thành tựu và kiến thức của tâm lý học nhận thức còn giúp phát triển y khoa và chữa trị các bệnh về tâm lý, tư nhiều cách để phân loại tâm lý học nhận thức. Tuy nhiên, ta có thể phân loại tâm lý học nhận thức theo 3 hướng bao gồm Thực nghiệm, tính toán và thần kinh .Tâm lý học nhận thức thực nghiệm coi tâm lý học nhận thức là một trong những khoa học tự nhiên và áp dụng các phương pháp thực nghiệm để khảo sát nhận thức của con người. Các phản ứng tâm sinh lý, thời gian phản hồi và theo dõi mắt thường được đo lường trong tâm lý học nhận thức thực lý học nhận thức tính toán phát triển các mô hình toán học và tính toán về nhận thức của con người dựa trên các biểu diễn ký hiệu và ký hiệu con, các hệ thống động lực lý học nhận thức thần kinh sử dụng hình ảnh não ví dụ EEG, MEG, PET, SPECT, Hình ảnh quang học và các phương pháp sinh học thần kinh ví dụ, bệnh nhân tổn thương để hiểu cơ sở thần kinh của nhận thức con đến tâm lý học nhận thức, chắc chắn không thể không nhắc đến Jean Piaget - một nhà triết học và tâm lý học Thuỵ Sĩ, người đã dành gần như cả đời mình để nghiên cứu những suy nghĩ, ngôn ngữ, trí thông minh của trẻ em và người lớn. Một trong những lý thuyết về tâm lý học nổi tiếng nhất của ông chính là lý thuyết phát triển nhận lý thuyết phát triển nhận thức của mình, Jean Piaget xác định thành 4 giai đoạn chính. Lý thuyết của ông không chỉ tập trung vào việc làm thế nào trẻ em có thể tiếp nhận kiến thức, mà còn tập trung nghiên cứu về bản chất của trí thông minh. 4 giai đoạn phát triển nhận thức gồm- Giai đoạn cảm giác vận động Giai đoạn phát triển đầu tiên kéo dài từ sơ sinh đến khoảng hai tuổi. Ở thời điểm phát triển này, trẻ nhận biết thế giới chủ yếu thông qua các giác quan và vận động cơ Giai đoạn tiền thao tác tư duy Giai đoạn phát triển thứ hai kéo dài từ hai tuổi đến bảy tuổi và được đặc trưng bởi sự phát triển của ngôn ngữ và sự xuất hiện của trò chơi biểu Giai đoạn thao tác cụ thể Giai đoạn thứ ba của quá trình phát triển nhận thức kéo dài từ 7 tuổi đến xấp xỉ 11 tuổi. Lúc này, tư duy logic đã xuất hiện, nhưng trẻ vẫn gặp khó khăn với tư duy lý thuyết và trừu Giai đoạn thao tác chính thức Trong giai đoạn thứ tư và giai đoạn cuối của quá trình phát triển nhận thức, kéo dài từ 12 tuổi đến tuổi trưởng thành, trẻ trở nên thành thạo hơn nhiều trong suy nghĩ trừu tượng và suy tin rằng đứa trẻ chính là người giữ vai trò chủ động trong quá trình học tập, chúng giống như một nhà khoa học nhỏ thực hiện những thí nghiệm đơn giản và quan sát, từ đó chúng có thể tìm hiểu về thế giới xung quanh. Khi trẻ em tương tác với thế giới xung quanh, các em liên tục nạp thêm những kiến thức mới, xây dựng từ những nền tảng kiến thức có sẵn và điều ứng với những kiến thức có sẵn để tiếp thu nay, tâm lý học nhận thức là một phần rất quan trọng của tâm lý học, nó được ứng dụng trong hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc lý học nhận thức ứng dụng trong y những thành tựu và kiến thức về tâm lý học nhận thức đã giúp cho đội ngũ y bác sĩ có thể tiếp cận điều trị bệnh tâm thần, chấn thương sọ não và bệnh thoái hóa não. Cũng nhờ tâm lý học nhận thức, chúng ta có thể xác định các cách thức để đo lường khả năng trí tuệ của con người, phát triển các chiến lược mới để chống lại các vấn đề về bộ nhớ và giải mã các hoạt động của bộ não con chỉ vậy, với sự giúp đỡ của các nhà tâm lý học nhận thức, mọi người có thể tìm cách để đối phó và thậm chí vượt qua những khó khăn về tâm lý. Các liệu pháp trị liệu bắt nguồn từ nghiên cứu nhận thức tập trung vào việc giúp mọi người thay đổi các suy nghĩ tiêu cực và thay thế những suy nghĩ đó bằng những suy nghĩ tích cực và thực tế hơn. Nhờ nghiên cứu trong lĩnh vực này bởi các nhà tâm lý học nhận thức, các phương pháp điều trị mới đã được phát triển để giúp điều trị trầm cảm, lo lắng, ám ảnh và rối loạn tâm lý khác .Tâm lý học nhận thức ứng dụng trong trường nắm bắt tâm lý học sinh giúp các thầy cô truyền tải kiến thức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn. Ngoài ra, thầy cô, nhà trường cũng kết hợp với gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhân cách của trẻ. Vì vậy, việc trang bị kiến thức tâm lý học là cần thiết. Bên cạnh đó, có những chuyên gia được đào tạo bài bản để hoạt động trong lĩnh vực này là các nhà tư vấn tâm lý học đường, công việc này ngày càng được coi trọng vì tính cần thiết của nó. Ở một khía cạnh khác, các nhà giáo dục cũng cần trang bị kiến thức ngành này để định hướng nghề nghiệp đúng đắn cho học sinh, điều này sẽ giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp cho xã lý học nhận thức ứng dụng trong vi của người tiêu dùng không nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của Tâm lý học. Mọi quyết định của khách hàng ảnh hưởng lớn đến thương hiệu xung quanh, từ hình ảnh đến đường lối và doanh số. Vì vậy, việc hiểu tâm lý và hành vi người tiêu dùng góp phần đưa ra sản phẩm, quảng cáo hay chiến dịch hiệu quả. Những kỹ năng được đào tạo trong tâm lý học như thống kê, đánh giá dữ liệu, đo lường mẫu tâm lý có thể ứng dụng nhiều ở bộ phận marketing như vị trí nghiên cứu thị trường, lên chiến dịch, sáng tạo nội dung và tối ưu hóa quảng cáo trên các nền lý học nhận thức ứng dụng trong tổ chức, doanh thiết lập văn hóa lành mạnh cũng như đảm bảo môi trường thúc đẩy sự cầu tiến của nhân viên, doanh nghiệp cần có chuyên gia thấu hiểu các vấn đề tâm lý nơi công sở. Họ có thể làm trong bộ phận nhân sự hoặc truyền thông đối nội, ở vị trí liên quan đến tập huấn, sức khỏe tinh thần, phúc lợi, thiết kế hoạt động teambuilding, nâng cao năng suất và hiệu quả công việc…Như vậy, có thể thấy, tâm lý học nhận thức là một trong những phân ngành vô cùng quan trọng của tâm lý, nó giúp nghiên cứu các quá trình tinh thần như nhận thức, lập kế hoạch hoặc trích xuất các suy luận,... Ứng dụng tâm lý học nhận thức trong mọi lĩnh vực của cuộc sống sẽ giúp bạn gặt hái được nhiều thành công
Đề cương ôn tập môn Tâm lý học đại cươngVnDoc xin giới thiệu bài Nhận thức cảm tính được chúng tôi sưu tầm và giới thiệu nhằm giúp các bạn nắm bắt kiến thức môn học một cách tốt hơn để có thể học và hoàn thành bài thi môn học một cách hiệu ý Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài Nhận thức cảm tính1. Khái niệm chung về cảm giác và tri Định nghĩa về cảm giác và tri Những đặc điểm cơ bản của cảm giác và tri Vai trò của cảm giác và tri giác2. Các quy luật cơ bản cảm giác và tri Các quy luật của cảm Các quy luật của tri giác3. Tính nhạy cảm và năng lực quan sát là những thuộc tính của nhân cách1. Khái niệm chung về cảm giác và tri Định nghĩa về cảm giác và tri giácMỗi sự vật, hiện tượng xung quanh ta đều được bộc lộ bởi hàng loạt các thuộc tính bề ngoài như màu sắc, hình dáng, kích thước, mùi vị hoặc âm thanh... Những thuộc tính này tác động đến từng giác quan của chúng ta và cho ta những cảm giác cụ thể. Từ những cảm giác cụ thể, riêng lẻ trên cơ sở kinh nghiệm mà con người có những hình ánh về đối tượng, tức là con người có tri giác về đối tượng. Ví dụ Nếu ta yêu cầu một người nhắm mắt lại rồi xòe ngửa bàn tay ra, ta đặt nhẹ vào lòng bàn tay họ một vật nhỏ và yêu cầu không được nắm tay lại để sờ mó sự vật đó thì chắc chắn họ sẽ không biết chính xác đó là vật gì, hình dáng, kích thước ra sao mà chỉ có thể biết được vật đó nặng hay nhẹ, nóng hay lạnh... nghĩa là chỉ mới phản ánh được từng thuộc tính bổ ngoài đang trực tiếp tác động vào lòng bàn tay, tức là mới có cảm giác về từng thuộc tính bề cũng ví dụ trên, sau khi đặt lên lòng bàn tay người đó một vật nhỏ, ta cho phép họ nắm tay lại, sờ mó đồ vật, thì lúc đó họ có thể nói được tên đồ vật ấy là gì, hình dạng, kích thước... của nó ra sao. Điều này có nghĩa là khi tiếp xúc với nhiều thuộc tính của đồ vật, người đó có thể phản ánh được một cách đầy đủ, trọn vẹn hơn các thuộc tính của nó, tức là anh ta đã tri giác được đồ vật. Vậy cảm giác, tri giác là gì?Cảm giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng Những đặc điểm cơ bản của cảm giác và tri giácTuy cùng nằm trong mức độ nhận thức cảm tính, song cảm giác và tri giác có những đặc điểm riêng mặc dù chúng có mối quan hệ mật thiết, chi phối lẫn nhau trong quá trình phản ánh các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện Những đặc điểm cơ bản của cảm giácCảm giác có những đặc điểm cơ bản sau đâyCảm giác là một quá trình tâm lí, nghĩa là có mở đầu, diễn biến và kết thúc một cách rõ ràng, cụ thể. Cảm giác nảy sinh, diễn biến khi sự vật, hiện tượng khách quan hoặc một trạng thái nào đó của cơ thể đang trực tiếp tác động vào giác quan của chúng ta. Khi kích thích ngừng tác động thì cảm giác cũng dừng giác chỉ phản ánh từng thuộc tính cụ thể của sự vật, hiện tượng thông qua hoạt động của từng giác quan riêng lẻ. Do vậy, cảm giác chưa phản ánh được một cách trọn vẹn, đầy đủ các thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Nghĩa là, cảm giác mới chỉ cho ta từng cảm giác cụ thể, riêng lẻ về từng thuộc tính của vật kích thích. Mỗi kích thích tác động vào cơ thể cho ta một cảm giác tương giác của con người khác xa về chất so với cảm giác của con vật. Điểm khác nhau cơ bản là cảm giác của con người mang bản chất xã hội. Bản chất xã hội của cảm giác của con người được thể hiện như sauĐối tượng phản ánh của cảm giác ở người không chỉ là những thuộc tính của sự vật, hiện tượng vốn có trong thế giới mà còn phản ánh những thuộc tính của sự vật, hiện tượng do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động và giao chế sinh lí của cảm giác ở người không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn chịu sự chi phối bởi hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ hai - hệ thống tín hiệu ngôn giác ở người chỉ là mức độ định hướng đầu tiên, sơ đẳng nhất, chứ không phải là mức độ cao nhất, duy nhất như ở một số loài động vật. Cảm giác ở người chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng tâm lí khác của con giác của người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của hoạt động và giáo dục, tức là cảm giác của người được tạo ra theo phương thức đặc thù của xã hội, do đó mang đặc tính xã dụ Nhờ hoạt động nghề nghiệp mà có người thợ “đo” được bằng mắt, người đầu bếp “nếm” được bằng mũi, người giáo viên có thể “nhìn” được bằng tai ý thức học tập của học sinh sau lưng Những đặc điểm cơ bản của tri giácTri giác được hình thành và phát triển trên cơ sở những cảm giác, nhưng tri giác không phải là phép cộng đơn giản của các cảm giác, mà là sự phản ánh cao hơn so với cảm giác. Do vậy, tri giác cũng có những đặc điểm giống với cảm giác, nhưng cũng có những đặc điểm khác với cảm giác có những đặc điểm giống với cảm giác nhưTri giác cũng là một quá trình tâm lí tức là có nảy sinh, diễn biến và kết thúc phản ánh những thuộc tính trực quan, bề ngoài của sự vật, hiện giác cũng chỉ phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp khi chúng tác động vào các giác quan của chúng điểm khác nhau cơ bản giữa cảm giác và tri giácNếu cảm giác phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng thì tri giác phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng. Tính trọn vẹn của tri giác là do tính trọn vẹn của bản thân sự vật, hiện tượng quy định. Kinh nghiệm có ý nghĩa rất lớn đối với tính trọn vẹn này, nên chỉ cần tri giác một số thành phần riêng lẻ của sự vật, hiện tượng, ta cũng có thể tổng hợp chúng thành một hình ảnh trọn vẹn của sự vật, hiện tượng. Sự tổng hợp này được thực hiện trên cơ sở phối hợp của nhiều cơ quan phân giác phản ánh sự vật, hiện tượng theo những cấu trúc nhất định. Cấu trúc này không phải là tổng số các cảm giác mà là sự khái quát đã được trừu xuất từ các cảm giác đó trong mối liên hệ qua lại giữa các thành phần của cấu trúc ấy ở một khoảng thời gian nào đó. Ví dụ Nhìn một bức tranh, trẻ hiểu được bức tranh đó vẽ công viên, trường học hay một cánh đồng vì các hình vẽ nằm trong một cấu trúc nhất định, có mối quan hệ qua lại xác định, do đó chúng tạo nên một bức tranh tổng thể công viên, trường học hay cánh đồng.... Sự phản ánh này không phải đã có từ trước mà nó diễn ra trong quá trình tri giác. Đó là tính kết cấu của tri giác là quá trình tích cực được gắn liền với hoạt động của con người. Tri giác mang tính tự giác, giải quyết một nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó, là một hành động tích cực, trong đó có sự kết hợp các yếu tố của cảm giác và vận Những đặc điểm chung của nhận thức cảm tínhTừ sự phân tích những đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa cảm giác và tri giác, chúng ta có thể nêu lên những đặc điểm chung của nhận thức cảm tính như sauNội dung phản ánh của nhận thức cảm tính là những thuộc tính trực quan, cụ thể, bề ngoài của sự vật, những mối liên hệ và quan hệ về không gian, thời gian chứ chưa phải là những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng trong thế thức phản ánh của nhận thức cảm tính là phản ánh trực tiếp bằng các giác quan chứ chưa phải là gián tiếp, khái quát bằng ngôn ngữ mặc dù trong nhận thức cảm tính của con người chịu ảnh hưởng của những tác động ngôn ngữ.Sản phẩm của hoạt động nhận thức cảm tính là những hình ảnh cụ thể, trực quan về thế giới, chứ chưa phải là những khái niệm, quy luật về thế đặc điểm trên đây cho thấy, nhận thức cảm tính mới chỉ là mức độ nhận thức ban đầu, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con Vai trò của cảm giác và tri giáca. Vai trò của cảm giácTrong cuộc sống nói chung và trong hoạt động nhận thức nói riêng của con người, cảm giác có những vai trò quan trọng như sauCảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người và con vật trong hiện thực khách quan, tạo nên mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và môi trường xung quanh. Lênin đã chỉ rõ “Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp giữa ý thức và thế giới bên ngoài, là sự chuyển hóa của năng lượng kích thích bên ngoài thành hiện tượng ý thức”l. Tuy nhiên, đây là hình thức định hướng đơn giản nhất từ những mối liên hệ ban đầu của cơ thể với thế giới xung giác là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các hình thức nhận thức cao hơn. “Cảm giác là viên gạch xây nên toàn bộ lâu đài nhận thức”. Lênin cho rằng “Tất cả hiểu biết đều bắt nguồn từ kinh nghiệm, từ cảm giác, tri giác”. “Nếu không có cảm giác thì chúng ta không thể biết gì hết về những hình thức của vật chất, cũng như về những hình thức của vận động.”Cảm giác là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động trạng thái hoạt hóa của vỏ não, nhờ đó đảm bảo hoạt động thần kinh của con người được bình thường. Các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này cho thấy, trong trạng thái “đói cảm giác”, các chức năng tâm lí và sinh lí của con người sẽ bị rối giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt quan trọng đối với những người bị khuyết tật. Những người câm, mù, điếc đã nhận ra những người thân và hàng loạt đồ vật nhờ cảm giác, đặc biệt là xúc Vai trò của tri giácVới tư cách là một mức độ nhận thức cảm tính cao hơn cảm giác, tri giác có vai trò quan trọng đối với con người, nó là thành phần chính của nhận thức cảm tính, nhất là ở người trưởng giác là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh. Hình ảnh của tri giác thực hiện chức năng điều chỉnh các hành biệt, hình thức tri giác cao nhất, tích cực nhất, chủ động và có mục đích là quan sát, đã làm cho tri giác của con người khác xa tri giác của con vật. Cùng với sự phát triển và phức tạp dần lên của đời sống xã hội và của các thao tác lao động, quan sát trở thành một mặt tương đối độc lập của hoạt động và đã trở thành một phương pháp nghiên cứu quan trọng của khoa học cũng như của nhận thức thực Các quy luật cơ bản cảm giác và tri giácCũng như các hiện tượng tâm lí khác, cảm giác và tri giác ở con người diễn ra theo những quy luật nhất định. Việc hiểu biết và tính đến các quy luật này trong cuộc sống và trong công tác giáo dục là hữu ích và cần Các quy luật của cảm giáca. Quy luật ngưỡng cảm giácMuốn có cảm giác thì phải có sự kích thích vào các giác quan. Song không phải mọi kích thích vào giác quan đều gây ra cảm giác kích thích quá yếu không gây ra cảm giác, kích thích quá mạnh cũng dẫn đến mất cảm giác. Kích thích chỉ gây ra được cảm giác khi kích thích đó đạt tới một giới hạn nhất định Giới hạn mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác có hai ngưỡng ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng cảm giác phía cảm giác phía dưới là cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây ra cảm giác. Khả năng cảm nhận được kích thích này gọi là độ nhạy cảm của cảm giác. Ngưỡng cảm giác phía trên là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn gây được cảm giác. Ví dụ, ngưỡng phía dưới của cảm giác nhìn thị giác ở người là những sóng ánh sáng có bước sóng là 380nm nanomet, lnm = Irm, ngưỡng cảm giác phía trên là vi giữa hai ngưỡng cảm giác nêu trên là vùng cảm giác được, trong đó có vùng cảm giác tốt nhất. Ví dụ, vùng phản ánh tốt nhất của cảm giác về ánh sáng là những sóng ánh sáng có bước sóng 565nm, của âm thanh là giác còn phản ánh sự khác nhau giữa các kích thích nhưng kích thích phải có một tỉ lệ chênh lệch tối thiểu về cường độ hay về tính chất thì ta mới cảm thấy có sự khác nhau giữa hai kích thích. Mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hay tính chất của hai kích thích đủ để phân biệt sự khác nhau giữa chúng gọi là ngưỡng sai biệt. Ngưỡng sai biệt của mỗi cảm giác là một hàng số. Ví dụ đối với cảm giác thị giác là 1/100, thính giác là 1/10...Ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng sai biệt tỉ lệ nghịch với độ nhạy cảm của cảm giác và độ nhạy cảm sai biệt Ngưỡng cảm giác phía dưới càng thấp thì độ nhạy của cảm giác càng cao, ngưỡng sai biệt càng nhỏ thì độ nhạy cảm sai biệt càng cao. Những ngưỡng này khác nhau ở từng loại cảm giác và ở từng Quy luật thích ứng của cảm giácĐể phản ánh được tốt nhất và bảo vệ hệ thần kinh, cảm giác của con người có khả năng thích ứng với kích thích. Thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với cường độ kích thích Khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm, khi cường độ kích thích giảm thì tăng độ nhạy dụ Khi ta đang ở chỗ sáng cường độ kích thích của ánh sáng mạnh mà vào chỗ tối cường độ kích thích của ánh sáng yếu thì lúc đầu không nhìn thấy gì cả, sau một thời gian mới dần dần thấy được mọi thứ xung quanh thích ứng. Trong trường hợp này xảy ra hiện tượng tăng độ nhạy cảm của cảm luật thích ứng có ở mọi loại cảm giác, nhưng mức độ thích ứng không giống nhau. Có loại cảm giác thích ứng nhanh như cảm giác nhìn, cảm giác ngửi; nhưng cũng có loại cảm giác chậm thích ứng hơn như cảm giác nghe, cảm giác năng thích ứng của cảm giác có thể thay đổi và phát triển do rèn luyện và tính chất nghề nghiệp... công nhân luyện kim có thể chịu đựng được nhiệt độ cao tới 50 - 60oc trong hàng tiếng đồng hồ, thợ lặn có thể chịu được áp suất 2atm trong vài chục phút đến hàng giờ....c. Quy luật về sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các cảm giácCác cảm giác của con người không tồn tại một cách biệt lập, tách rời mà luôn tác động qua lại lẫn nhau. Trong sự tác động này, các cảm giác luôn luôn thay đổi độ nhạy cảm của nhau và diễn ra theo quy luật sau Sự kích thích yếu lên một cơ quan phân tích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một cơ quan phân tích kia và ngược lại. Ví dụ, ta thường nói “Đói mờ cả mắt”.Sự tác động lẫn nhau của các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hay nối tiếp trên những cảm giác cùng loại hay khác loại. Sự thay đổi của một kích thích cùng loại xảy ra trước đó hay đồng thời gọi là hiện tượng tương phản trong cảm giác. Có hai loại tương phản tương phản nối tiếp và tương phản đồng thời. Ví dụ Sau một kích thích lạnh thì một kích thích ấm lại làm ta thấy có vẻ nóng hơn. Đó là tương phản nối tiếp. Một người có làn da “bánh mật” mặc bộ đồ màu tối đen hoặc xám..., ta thấy họ càng đen hơn. Đó là tương phản đồng dạy học, sự tương phản được sử dụng khi so sánh hoặc khi muốn làm nổi bật một sự vật nào đó trước học sở sinh lí của quy luật này là mối liên hệ trên vỏ não của cơ quan phân tích và quy luật cảm ứng qua lại giữa hưng phấn và ức chế trên vỏ Các quy luật của tri giáca. Quy luật về tính đối tượng của tri giácHình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng thuộc về một sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài. Hình ảnh ấy một mặt phản ánh đặc điểm của đối tượng mà ta tri giác, mặt khác là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Nghĩa là con người khi tạo ra hình ảnh tri giác phải sử dụng một tổ hợp các hoạt động của các cơ quan phân tích, đồng thời chủ thể đem sự hiểu biết của mình về sự vật, hiện tượng dạng tri giác để “tách” các đặc điểm của sự vật, đưa chúng vào hình ảnh của sự vật, hiện tượng. Nhờ mang tính đối tượng mà hình ảnh tri giác là cơ sở định hướng và điều chỉnh hành vi, hoạt động của con Quy luật về tính lựa chọn của tri giácTrong tính lựa chọn chứa đựng tính tích cực của tri giác Tri giác là quá trình tách đối tượng ra khỏi bối cảnh. Vì vậy, những sự vật hay thuộc tính của sự vật nào càng được phân biệt với bối cảnh thì càng được tri giác dễ dàng, đầy đủ hơn. Sự lựa chọn trong tri giác không có tính chất cố định, vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể giao hoán cho nhau. Có vô vàn sự vật, hiện tượng tác động vào con người. Tri giác của con người không thể đồng thời phản ánh tất cả các sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động, mà chí tách ra một số tác động trong vô vàn những tác động ấy để tri giác một đối tượng nào đó. Đặc điểm này nói lên tính lựa chọn của tri luật này được ứng dụng nhiều trong trang trí, bố cục, trong dạy học, thay đổi kiểu chữ, màu mực khi viết bảng, minh hoạ...c. Quy luật về tính ý nghĩa của tri giácCác hình ảnh của tri giác luôn luôn có một ý nghĩa nhất định. Khi tri giác một sự vật, hiện tượng, bằng kinh nghiệm và vốn hiểu biết của mình, con người gọi được tên sự vật, hiện tượng đó Nó là cái gì? và xếp nó vào một nhóm, một loại nhất định. Ngay cả khi tri giác một sự vật hiện tượng không quen biết, ta vẫn cố gắng ghi nhận trong đó một cái gì đó giống với các đối tượng mà ta đã quen biết hoặc xếp nó vào một loại sự vật hiện tượng đã biết, gần gũi nhất đối với quá trình tổ chức hoạt động học tập cho học sinh, giáo viên cần phải tính đến quy luật này. Tài liệu trực quan chỉ được quan sát một cách đầy đủ, sâu sắc khi giới thiệu những tài liệu đã được kèm theo những lời chỉ dẫn. Việc gọi tên đầy đủ, chính xác các sự vật, hiện tượng mới mẻ khi tổ chức cho học sinh quan sát là rất cần Quy luật về tính ổn định của tri giácĐiều kiện tri giác một sự vật, hiện tượng nào đó của chúng ta có thể thay đổi độ chiếu sáng, vị trí trong không gian, khoảng cách tới người tri giác..., song chúng ta vẫn tri giác được sự vật hiện tượng đó như là sự vật, hiện tượng ổn định về hình dáng, kích thước, màu sắc... Hiện tượng này nói lên tính ổn định của tri ổn định của tri giác là khả năng phản ánh sự vật, hiện tượng không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi. Ví dụ Trước mặt ta là một em bé, xa hơn, phía sau em bé là một chàng thanh niên. Trên võng mạc, mặc dù hình ảnh em bé lớn hơn hình ảnh chàng thanh niên, nhưng ta vẫn cảm thấy chàng thanh niên lớn hơn đứa trẻ. Tương tự, khi ta viết lên trang giấy, ta luôn cảm thấy trang giấy có màu trắng, dù là ta viết dưới ánh điện, ánh trăng hay ánh đèn dầu, lúc trời tối nhá nhem...Tính ổn định của tri giác phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trước hết là do cấu trúc của sự vật, hiện tượng tương đối ổn định trong một thời gian, thời điểm nhất định. Nhưng chủ yếu là do cơ chế tự điều chỉnh của hệ thần kinh cũng như vốn kinh nghiệm của con người về đối tượng. Tính ổn định của tri giác không phải là cái bẩm sinh, mà nó được hình thành trong đời sống cá thể, là điều kiện cần thiết của hoạt động thực tiễn của con người. Tuy nhiên, khi tri giác, cần khắc phục cái nhìn phiến diện, tĩnh tại về thế Quy luật tổng giácNgoài tính chất, đặc điểm của vật kích thích, tri giác của con người còn phụ thuộc vào bản thân chủ thể tri giác như nhu cầu, hứng thú, tình cảm, mục đích, động cơ... ví dụ “Yêu nhau củ ấu cũng tròn”.Sự phụ thuộc của tri giác vào nội dung đời sống tâm lí con người, vào đặc điểm nhân cách của họ được gọi là hiện tượng tổng giác. Điều đó chứng tỏ rằng ta có thể điều khiển được tri giác. Do vậy, trong quá trình dạy học và giáo dục, chúng ta phải tính đến kinh nghiệm, vốn hiểu biết, xu hướng, hứng thú, tâm lí của học sinh...; đồng thời việc cung cấp tri thức kinh nghiệm, giáo dục niềm tin, nhu cầu... cho họ sẽ làm cho sự tri giác của họ tinh tế, nhạy bén Ảo giácVí dụ Các vòng tròn như nhau nhưng nằm giữa các vòng tròn to hơn thì tri giác dường như bé hơn. Các trường hợp khác cũng có kết quả tương tự. Trong một số trường hợp, với những điều kiện thực tế xác định, tri giác có thể không cho ta hình ảnh đúng về sự vật. Hiện tượng này gọi là ảo giác là tri giác không đúng, bị sai lệch, tạo ra hình ảnh về đối tượng, hiện tượng không có thật. Những hiện tượng này tuy không nhiều, song nó có tính quy ta vận dụng ảo giác vào trong kiến trúc, hội họa, trang trí, trang phục... để phục vụ cho cuộc sống con lại, cảm giác và tri giác có nhiều quy luật, chúng quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, góp phần làm phong phú nguyên liệu cảm tính cho các hoạt động nhận thức cao hơn tư duy, tưởng tượng. Trong quá trình dạy học và giáo dục, chúng ta cần vận dụng các quy luật cơ bản của cảm giác và tri giác một cách tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học và giáo Tính nhạy cảm và năng lực quan sát là những thuộc tính của nhân cáchTính nhạy cảm là năng lực cảm giác nhạy bén, tinh vi, chính xác của con người. Tính nhạy cảm nâng lực cảm giác được phát triển ở mỗi người với những mức độ khác nhau. Điều này phụ thuộc vào những tư chất tự nhiên cấu tạo và chức năng của các giác quan, kiểu loại thần kinh..., vào hoạt động của con người, vào việc rèn luyện và giáo dục cũng như những phẩm chất của nhân cách xu hướng, nhu cầu, hứng thú, khả năng chú ý, vốn kinh nghiệm cá nhân...Thông qua hoạt động và rèn luyện, tính nhạy cảm của cảm giác được nâng lên. Chẳng hạn, người đầu bếp sành sỏi có thể phân biệt được độ mặn của thức ăn khi nêm thêm một chút ít muối, người nhạc công lão luyện có thể phân biệt được âm thanh theo độ cao...Năng lực cảm giác tính nhạy cảm là nhân tố chủ yếu của năng lực quan sát. Năng lực quan sát là khả năng tri giác có chủ định, diễn ra tương đối độc lập và lâu dài, nhằm phản ánh đầy đủ, rõ rệt các sự vật, hiện tượng và những biến đổi của chúng. Năng lực quan sát của mỗi người một khác. Sự khác biệt này được thể hiện ở mức độ tri giác nhanh chóng, chính xác những điểm quan trọng, chủ yếu và đặc sắc của sự vật, hiện tượng đến mức nào. Năng lực quan sát được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và rèn quan sát tốt, cần chú ý những điều kiện sauXác định rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nhiệm vụ quan bị chu đáo cả về tri thức lẫn phương tiện trước khi quan hành quan sát có kế hoạch, có hệ quan sát, cần tích cực sử dụng các phương tiện ngôn với trẻ nhỏ, nên tạo điều kiện cho trẻ sử dụng nhiều giác quan khi quan ghi lại kết quả quan sát, xử lí kết quả đó và rút ra những nhận xét cần khác biệt cá nhân về năng lực quan sát nói lên sự khác biệt cá nhân về kiểu tri giác. Con người có bốn kiểu tri giác cơ bản Kiểu phân tích, kiểu tổng hợp, kiểu phân tích - tổng hợp và kiểu cảm thuộc kiểu phân tích chủ yếu tri giác những thuộc tính, những bộ phận, chi tiết cụ thể của đối thuộc kiểu tổng hợp thiên về tri giác những mối quan hệ giữa các thuộc tính, các bộ phận, chú trọng đến chức năng, ý nghĩa của nó mà coi nhẹ các thuộc tính, chi tiết cụ thuộc kiểu phân tích - tổng hợp giữ được sự cân đối giữa phân tích và tổng hợp khi tri thuộc kiểu cảm xúc chủ yếu phản ánh những xúc cảm, tâm trạng mà đối tượng gây ra cho mình, ít quan tâm đến bản thân đối công tác dạy học và giáo dục, giáo viên cần chú ý đến những điểm khác biệt trên đây, để hình thành cho mỗi học sinh năng lực quan sát tốt tôi đã giới thiệu nội dung bài Nhận thức cảm tính về khái niệm và đặc điểm, các thuộc tính cơ bản của nhận thức cảm tính..Trên đây, VnDoc đã giới thiệu tới các bạn Nhận thức cảm tính. Ngoài ra, các bạn có thể tham khảo thêm nhiều tài liệu Cao đẳng - Đại học cũng như Cao học khác để phục vụ quá trình nghiên cứu hiệu quả hơn.
- Bài học nhận thức và hành động 4 Bài học nhận thức và hành động - Cần cú thỏi độ sống tớch cực, chủ động, biết quý trọng thời gian - Xỏc định lớ tưởng sống đỳng đắn, khụng sống gấp, sống hưởng thụ 0,5 ĐỀ 33 Biết tự hào về bản thõn là cần thiết nhưng biết xấu hổ cũn quan trọng hơn. Hóy viết một bài văn ngắn khoảng 600 từ trỡnh bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trờn. - Giới thiệu ý kiến của đề bài biết tự hào về bản thõn là cần thiết nhưng xấu hổ cũn quan trọng hơn. - Giải thớch + Tự hào lấy làm hài lũng, hónh diện về cỏi tốt đẹp mà mỡnh cú. + Xấu hổ cảm thấy hổ thẹn khi thấy mỡnh cú lỗi hoặc kộm cỏi trước người khỏc. + í kiến thể hiện quan điểm của người phỏt biểu về quan hệ của tự hào với xấu hổ tự hào thỡ cần thiết, xấu hổ quan trọng hơn. - Phõn tớch, chứng minh + Tự hào là cần thiết ⋅ Người tự hào thường là người hiểu rừ bản thõn, nhất là sở trường, cỏc tốt đẹp của bản thõn. Do đú cũng dễ là người cú thỏi độ tự tin. ⋅ Tự hào thường mang lại những cảm xỳc tớch cực. Nú giỳp người ta dễ phấn khởi trong hành động. Do đú cuộc sống dễ đạt được những thành cụng. + Biết xấu hổ cũn quan trọng hơn ⋅ Biết xấu hổ, người ta dễ trỏnh những lỗi lầm sai trỏi. ⋅ Biết xấu hổ, người ta dễ nổ lực vươn lờn để khắc phục những kộm cỏi của bản thõn. ⋅ Biết xấu hổ, người ta dễ cú lũng khiờm tốn, cú tinh thần trỏch nhiệm, cú lương tõm. ⋅ Biết xấu hổ là một trong những biểu hiện của lũng tự trọng, của nhận thức về phẩm giỏ con người. ⋅ Biết xấu hổ, người ta cũng dễ biết kiềm chế bản thõn trước cỏc tỡnh huống. - Phờ phỏn Trong thực tế, cú những người khụng biết tự hào, cũng chẳng tự trọng, vụ cảm với mỡnh, với người. Nguyờn nhõn thường do thiếu nhận thức, thiếu kỹ năng sống. - Bỡnh luận Tự hào, tự trọng mà biết xấu hổ là một biểu hiện của nú là những phẩm chất đỏng quý mà mỗi người cần cú, trong đú cần nhận thức tự hào là cần thiết nhưng tự trọng thỡ quan trọng hơn. - Làm sao để cú lũng tự hào và tự trọng + Cần cú hiểu biết và ý thức về giỏ trị con người và cuộc sống. + Cần cú hiểu biết về ý nghĩa quan trọng của phẩm giỏ cỏ nhõn. + Cần nỗ lực phấn đấu rốn luyện trau dồi những phẩm chất và kỹ năng sống cần thiết để sống tốt. ĐỀ 34 Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hóy là người cú ớch. Hóy viết một bài văn ngắn khoảng 600 từ trỡnh bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trờn. - Giới thiệu ý kiến của đề bài Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hóy là người cú ớch. - Giải thớch + Người nổi tiếng là người cú tiếng tăm được nhiều người biết đến. + Người cú ớch là người cú cuộc sống cú ớch, cú ý nghĩa, cũng cần thiết và cú giỏ trị đối với người khỏc, gia đỡnh, xó hội. + í kiến là một lời khuyờn về một trong những mục đớch sống của con người hóy sống với một mục đớch sống chõn chớnh đừng cố gắng theo đuổi tiếng tăm, danh vọng mà hóy quan tõm đến giỏ trị của cuộc sống, nhất là với mọi người. - Phõn tớch chứng minh + Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng ⋅ Tiếng tăm, danh vọng thường khụng phải là mục đớch cao đẹp nhất của cuộc sống. ⋅ Danh vọng cú thể làm tha húa con người, làm băng hoại đạo đức và đẩy con người ta vào tội lỗi. ⋅ Để cố trở thành người nổi tiếng cú những người đó đi vào những con đường bất chớnh, sử dụng những phương cỏch xấu xa. Do đú, nổi tiếng như thế chỉ là vụ nghĩa. + Trước hết, hóy là người cú ớch ⋅ Người sống cú ớch mang lại nhiều ớch lợi cho người khỏc trong cuộc sống. ⋅ Sống cú ớch sẽ làm thăng hoa giỏ trị con người, thăng hoa giỏ trị cuộc sống. ⋅ Người cú ớch dự khụng được nổi tiếng nhưng cuộc sống của họ là cần thiết, cú giỏ trị, cú ý nghĩa đối với người khỏc, gia đỡnh, xó hội. Ngay cả trong quan niệm của người xưa về “chớ nam nhi”, chữ “danh” Phải cú danh gỡ với nỳi sụng luụn gắn với thực chất của hành động Làm nờn đấng anh hựng đõu đấy tỏ. - Bỡnh luận + Nổi tiếng cũng cú mặt tốt, cú tỏc dụng tốt. Tiếng núi của người nổi tiếng thường cú tỏc động nhiều hơn, lớn hơn đối với người khỏc, xó hội. + Nhưng đừng cố gắng chạy theo việc trở thành người nổi tiếng bằng mọi cỏch vỡ điều đú mang lại nhiều tỏc hại. Hóy để cho tiếng tăm được đến một cỏch tự nhiờn bằng hành động cú thực chất hữu xạ tự nhiờn hương. + Làm sao để là người cú ớch ⋅ Hóy sống cú lý tưởng; ⋅ Hóy sống cú đạo đức, cú trỏch nhiệm; ⋅ Hóy sống vỡ gia đỡnh, vỡ xó hội, vỡ cộng đồng; + í kiến này là một biểu hiện cụ thể của vấn đề danh và thực trong cuộc sống con người. Giải quyết tốt mối quan hệ của vấn đề nổi tiếng và cú ớch, của danh và thực, người ta sẽ dễ cú cuộc sống bỡnh an, hạnh phỳc, chõn chớnh. - Đõy là một ý kiến cú giỏ trị đỳng đắn. Đồng thời nú cũng là một lời khuyờn rất cú tớnh thời sự, nhất là trước hiện tượng một bộ phận giới trẻ ngày nay đang cú xu hướng tỡm sự nổi tiếng bằng mọi giỏ. ĐỀ 35 Trỡnh bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau đõy của A. Lincoln “Điều tụi muốn biết trước tiờn khụng phải là bạn đó thất bại ra sao mà là bạn đó chấp nhận nú như thế nào”. 1 cầu về kỹ năng Biết cỏch làm bài văn nghị luận xó hội, lớ giải thuyết phục một quan niệm về đạo lớ con người. Bài làm cú kết cấu chặt chẽ, bố cục cú tớnh khoa học, hợp lớ, rừ ràng; diễn đạt mạch lạc, trong sỏng. 0,5 2 b. Yờu cầu về kiến thức 0,5 Giải thớch ý kiến - Thất bại là hỏng việc, thua mất, là khụng đạt được kết quả, mục đớch như dự định
Mới nhất Thời sự Góc nhìn Thế giới Video Podcasts Kinh doanh Bất động sản Khoa học Giải trí Thể thao Pháp luật Giáo dục Sức khỏe Đời sống Du lịch Số hóa Xe Ý kiến Tâm sự Thư giãn Giáo dụcTin tức Thứ năm, 29/12/2022, 1000 GMT+7 Vinamilk đồng hành cùng các Sở Giáo dục xây dựng chuỗi hoạt động ngoại khóa nhằm giúp học sinh tiểu học nâng cao nhận thức về môi trường và cam kết bảo vệ Trái đất. Chương trình "Tuyên truyền và giáo dục cho học sinh tiểu học cách phân loại rác bảo vệ môi trường" do thương hiệu Sữa chua uống Susu và Sữa trái cây Hero của Vinamilk tổ chức tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận 4, TP HCM trong tháng 12 đã thu hút sự tham dự của hơn học sinh cùng các thầy cô giáo. Đây là một địa điểm trong hàng chục trường học trên cả nước mà chương trình đã ghé thăm và nhận những phản hồi tích cực. Vở kịch "Biệt đội siêu anh hùng - bảo vệ Trái đất" mở đầu cho buổi ngoại khóa, nội dung kể về một ngôi làng có các quái vật rác sinh sôi nảy nở, đe dọa môi trường sống của dân cư và các em học sinh. Các em lo lắng và mong ước được trở thành anh hùng để bảo vệ trái đất. Nhờ nạp năng lượng từ sữa SuSu và Hero, cũng như sự giúp đỡ từ những người bạn khác, các bạn nhỏ đã cùng nhau tìm ra cách đánh bại quái vật rác. Đó chính là giữ gìn vệ sinh môi trường, trồng nhiều cây xanh và học cách phân loại rác. Các em học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi chăm chú theo dõi và thể hiện sự thích thú với nội dung có lồng ghép thông điệp bảo vệ môi trường của vở kịch. Nhiều học sinh tại trường rất hào hứng khi giao lưu với các diễn viên của vở kịch. Cú chạm tay thay cho lời cam kết cùng nhau phân loại rác, bảo vệ môi trường vì một trái đất xanh tươi, sạch đẹp. 4 thành viên của Hero Team xuất hiện trên sân khấu cùng màn nhảy flashmob mang đến không khí sôi động dưới sân trường. Các bé hòa nhịp cùng vũ điệu flashmod Susu và Hero lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường. Nghi thức cam kết bảo vệ trái đất cùng Susu và Hero kết thúc hoạt động biểu diễn của Hero Team và các học sinh đại diện cho toàn thể học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi. Các bé lăn tay vào khay màu rồi đồng loạt ghi dấu lên quả địa cầu trên sân khấu. Ở dưới sân trường, nhiều bạn nhỏ cũng tự nhủ sẽ quyết tâm phân loại rác để bảo vệ môi trường. Không chỉ tiếp nhận thông điệp bảo vệ môi trường một chiều, các bé được tham gia các trò chơi để tự mình biến thành anh hùng bảo vệ trái đất. Các bé thực hiện thử thách ghép hình, sử dụng sự tinh mắt, nhanh nhạy để ghép các miếng bìa thành một bức tranh hình mang thông điệp bảo vệ Trái đất cùng nhãn hàng sữa chua uống Susu. Với thử thách thách vận động cùng sữa trái cây Hero, hai bạn đi trên một miếng gỗ lớn, vượt qua các chướng ngại, nhặt rác và phân loại chúng theo kiến thức đã học, sau đó kết thúc bằng việc ném bóng rổ. Thử thách đòi hỏi ở các bé sự khéo léo, phối hợp nhịp nhàng cũng như áp dụng kiến thức phân loại rác vừa được truyền tải. Hoàn thành mỗi thử thách, các bé sẽ nhận được quà từ nhãn hàng sữa trái cây Hero để khích lệ tinh thần bảo vệ môi trường. Bé Quốc Cường lớp 2 chia sẻ em thích các hoạt động trong chương trình. Ở nhà em ít phân loại rác nhưng sau buổi ngoại khóa hôm nay em sẽ tích cực phân loại, giữ vệ sinh chung để bảo vệ môi trường như Susu và Hero. Chị Nhung, phụ huynh của một học sinh cũng bày tỏ mong muốn có nhiều chương trình tương tự để giáo dục các bé từ nhỏ, vừa chơi vừa học như vậy bé rất thích và ghi nhớ lâu hơn. Cô Nguyễn Thị Ngọc Nga, hiệu trưởng trường Nguyễn Văn Trỗi bên trái đánh giá cao chương trình ngoại khóa mà công ty Vinamilk cũng như 2 nhãn hàng Susu và Hero đem tới cho học sinh. Cô cho biết, những hoạt động ngoại khóa vừa học vừa chơi giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng hơn so với những bài giảng khô cứng, vì thế hầu như tuần nhà trường cũng tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho các bé. "Chương trình ngoại khóa của Vinamilk, với sự kết hợp hai nhãn hàng Susu và Hero rất hữu ích và vui nhộn, giúp trẻ nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường một cách sinh động và mới mẻ", cô hiệu trưởng nhận xét. Ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay, đe dọa sự đa dạng sinh học, gây biến đổi khí hậu và nhiều hệ lụy khác đến cuộc sống. Giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường là một giải pháp quan trọng để bảo vệ môi trường cho tương lai. Mỗi người tùy sức của mình có thể đóng góp cho môi trường, tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Theo đó, các bé có thể phân loại rác tại nhà, nơi công cộng, tiết kiệm thời gian và chi phí xử lý. Đó cũng là lý do mà nhãn hàng SuSu và Hero của công ty Vinamilk kết hợp với trường Nguyễn Văn Trỗi, cũng như các trường tiểu học trên 10 tỉnh thành cả nước để tổ chức chuỗi chương trình vừa học, vừa chơi, giúp các bé nâng cao nhận thức và hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
bài học nhận thức